Tình yêu Hà Nội nhìn từ góc các nhà hội họa

24/04/2017 - 11:00:02 404

HNP - Trong hành trình đi tìm cái Đẹp, suốt hàng chục năm qua, các họa sỹ Việt Nam, thế hệ này nối tiếp thế hệ khác…đã sống và lao động hết mình. Phần lớn các họa sĩ đều sống và làm việc ở Hà Nội. Trong cuộc va đập đời thường, tôi có cơ duyên gặp một số người mà nhân cách và tài năng đã và đang để lại cho dân tộc ta những dấu ấn sâu đậm và cống hiến cho nghệ thuật Việt Nam cũng như thế giới những tác phẩm đặc sắc. Những họa sỹ đó đa phần sinh ra lúc giao thời , vào buổi bình minh dựng nước, nay người còn người mất, cũng xin giới thiệu thành một chùm “TÌNH YÊU HÀ NỘI…” với bạn đọc về một số chân dung họa sỹ nhân dịp hướng đến Thăng Long- Hà Nội ngàn năm văn hiến. :-    Bùi Xuân Phái- Cái khiêm của người nhân-    Mai Văn Hiên- Người chiến sĩ trên chiến trường hội họa-    Nguyễn Trọng Kiệm- Một nhân cách-    Mai Long- Người  chung tình vẽ lụa - Lê Trí Dũng (họa sĩ)

 

                                                                   

                  BÙI XUÂN PHÁI, CÁI KHIÊM CỦA NGƯỜI NHÂN

                         (Cảm nhận sau khi đọc “Viết dưới ánh đèn dầu”

                                          của họa sỹ Bùi Xuân Phái)

ảnh: Ký họa Bùi Xuân Phái  qua nét bút của HS. Lê Trí Dũng

Còn không nhiều ngày nữa là Hà Nội kỷ niệm 1000 năm tuổi. Nhiều thập kỷ qua, người ta đua nhau vẽ về nó, bằng mọi chất liệu, mọi kích cỡ... Nhưng cuối cùng, không ai vượt được ông, bằng tình yêu Hà Nội, với quả tim người Hà Nội, bằng phong cách vẽ độc nhất vô nhị, với số lượng tranh khổng lồ... Hội họa của ông đã  thành một “đặc sản” của Hà Nội dưới cái tên “Phố Phái”.

Tôi gấp trang cuối cùng cuốn “Con đường nghệ thuật” và “Viết dưới ánh đèn dầu” của họa sĩ Bùi Xuân Phái,... Một cảm xúc thương cảm và tự hào xen lẫn. Ông quả là một Con Người đúng nghĩa, mà là “con người Hà Nội”! Có nghĩa là thanh lịch, đôn hậu, hào hoa... mà không kém phần quyết liệt!

Họa sĩ Bùi Xuân Phái sinh năm 1920 tại Hà Nội trong một gia đình nho học làng Kim Hoàng (Hà Đông). Quê ông là một làng có dòng tranh dân gian nổi tiếng và nơi ông lớn lên, số nhà 87 phố Thuốc Bắc là nơi mẹ ông mở cửa hàng bán họa phẩm, giấy mực... Những yếu tố đó tạo rất nhiều thuận lợi cho sự nghiệp của ông sau này. Một chiều năm 1987, tôi đi trên phố, bất ngờ thấy trong một chiếc xe tang, bên chiếc quan tài, ông đang thành kính, đau khổ đưa mẫu thân của mình về quê... Chân dung ông thì không lẫn vào đâu được. Một “Đông ki sốt” Việt Nam với vẻ mặt Thánh “tuẫn nạn”. Nhưng ông cũng không ngờ tới là một năm sau, chính ông cũng theo người về cõi vĩnh hằng, để lại cho họa giới Việt Nam một năm đầy tổn thất (một năm “đi” ba danh họa: Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên và Bùi Xuân Phái). Tôi không được diễm phúc gần ông lúc sinh thời, chỉ mê và phục tranh ông... Nhưng điều không ngờ, sau khi ông mất chúng ta lại biết thêm là ông viết rất hay, dưới tập sách có cái tên “Viết dưới ánh đèn dầu”. Những lưu bút của ông, đầy tâm sự, bức xúc, giãi bày, đau khổ về nghề, về đời... trăn trở, ngổn ngang mà vẫn đôn hậu, nhân tình...

  Bây giờ mà ca ngợi về tranh pháo của ông, e hơi thừa vì đã có quá nhiều người viết! Qua đọc “Viết dưới ánh đèn dầu”, tôi cảm nhận sâu sắc ở  Bùi Xuân Phái… một con người tràn ngập tinh thần học hỏi, khiêm tốn. Về chữ Khiêm, tôi có một kỷ niệm: Trong một lần chữa xe máy, ngồi quán nuớc chờ... ngẫu nhiên cánh đàn ông lại đá vào kinh dịch... Bác thợ chữa xe hỏi cả đám: Nghe các anh bàn nào quẻ Thăng, quẻ Thái, quẻ Càn, quẻ Khôn... Tôi đố các anh quẻ nào là “Căn bản” nhất? Cả đám ngơ ngác, ông nói: đó là quẻ Khiêm! Sau này mới biết ông là một giảng sư về Thần học ở Đại học Quốc gia, về hưu... chữa xe máy cho thư giãn !... Trong dân gian Việt Nam cũng có câu chuyện cười để giễu loại người thiếu đức khiêm: Có ba anh uống rượu, say... xuất khẩu thành chương, bèn đọc:

                                “Con cóc trong hang
                                   Con cóc nhảy ra”.
Anh thứ hai tiếp luôn: “Con cóc nhảy ra
                                   Con cóc ngồi đó”.
Anh thứ ba tiếp:           “Con cóc ngồi đó
                                    Con cóc nhảy đi”...
                                                  

Rồi bất chợt, cả ba ôm mặt hu hu khóc, chủ quán gặng hỏi, ba anh bảo: Chúng tôi còn trẻ mà tinh hoa đó phát tiết ra hết thế này, e rằng không còn sống được bao lâu nữa, nhờ chủ quán mua hộ ba cỗ quan tài đề phòng hậu sự. Chủ quán bèn cho người nhà mang về bốn cỗ quan tài, ba chàng ngạc nhiên. Chủ quán rằng: Thơ các ông hay quá, nghe xong tôi chắc cũng không sống được nữa nên thêm một cỗ cho mình... Tới đây, ta thấy trong họa giới không thiếu những chàng (đủ mọi lứa tuổi) làm thơ con cóc và tự cho mình là “cây đại thụ” hoặc “Núi thái sơn”... cứ anh nọ tâng bốc anh kia, chả còn biết xấu hổ là gì.

Trong“Viết dưới ánh đèn dầu”, Bùi Xuân Phái tự sự: -“Hãy vẽ. Vẽ để thấy các non kém của mình. Không dấu kém. Vẽ tốt nhất là trong khi vẽ học thêm được một cái gì bổ ích. Đáng buồn là cái tầm thường. Vẽ không phải là để trổ tài. Càng muốn trổ tài càng đi đến cái tầm thường (trang 64)… hay câu chuyện sau do họa sĩ Việt Hải kể lại: -Vào thập kỷ 50 thế kỷ trước, trong đợt phê bình và tự phê, ông (Bùi Xuân Phái) có nói một câu: “Tôi nghĩ là tôi có tài”. Hơn ba mươi năm sau, Việt Hải có hỏi lại, nếu là bây giờ thì ông sẽ trả lời sao. Bùi Xuân Phái trả lời: “Tôi ngờ là tôi có tài”. .. Sống trong một giai đoạn gian nan thời bao cấp, phải giành giật va đập với cơm áo, thương trường... Nhưng họa sĩ vẫn có nhìn nhận rất rõ ràng: “Một anh bất tài bốc phét, một anh bắt đầu “giàu sang” học đòi kiến thức…một anh tham lam keo bẩn, coi đồng tiền hơn cả danh dự v.v... v.v... Bực mình làm gì, có lẽ nên cười thì hơn”. Với cuộc đời nhiều lúc lẫn lộn trắng đen, ông đã rất minh bạch, một “minh bạch” đôn hậu kiểu Bùi Xuân Phái: “Không phải cứ nhẩy bừa vào làng thơ, làng họa là thành nhà thơ, nhà họa một cách dễ dàng đâu. Những con mắt tinh đời, sành sỏi, uyên bác... sẽ đánh giá vị trí anh ở chỗ nào!”. Với những người quen “học mót”, “thuổng” của người khác, ông viết: “Nếu cố tình bắt chước người khác thì cũng chỉ thành đồ giả thôi, cần phải vẽ một cách chân thành, không giả tạo, đừng vay mượn để che đậy cái... kém của mình...”

 Ông cũng phê phán tật nói nhiều của những anh huyênh hoang, tự phụ: “Nói hay mà để người nghe nhiều quá đến phát ngấy, đã không được rồi. Huống chi nói dở mà bắt người ta nghe nhiều thì có làm tội người ta không?” hoặc: “Được! cứ để anh chàng ấy tuyên bố: “Vẽ là thở, vẽ là sống!”, “Hôm nay mà vẽ giống hôm qua thì bẻ bút đi!”, “Một bức tranh là một lít máu”...” và ông nói: “Tuyên bố suông hoặc quá đáng thì chỉ làm trò cười. Đừng quan trọng hóa cái tôi nhiều thế, có phải vì thế mà quần chúng phục anh đâu. Tác phẩm mới là quan trọng...”.

Gấp “Viết dưới ánh đèn dầu” lại, trong ta hiện lên một Bùi Xuân Phái đôn hậu trong tình người, vị tha trong ứng xử, minh bạch trong lẽ sống, quyết liệt trong nghệ thuật... Và trên tất cả là đức khiêm tốn. Tranh của ông cũng vậy, giống ông! Các phố Phái lặng lẽ, yên ả với các mái ngói nâu xám, lặng lẽ… Xem tranh của ông, đọc những di cảo của ông, ngắm các lưu bút của ông, lòng ta như tĩnh lại, tự tin hơn,… Nhớ ánh mắt hiền hòa, hơi giễu cợt của ông, ta thấy, cuộc sống sớm hay muộn theo dòng thời gian vẫn là một sự minh bạch. Còn không, như ông nói: “Cũng chỉ nên cười và cho quên những gì không đáng nhớ mà thôi”.

 
         MAI VĂN HIẾN, NGƯỜI LÍNH TRÊN CHIẾN TRƯỜNG HỘI HỌA
 

  Họa sĩ Mai Văn Hiến sinh năm 1923 tại đồng bằng sông sông Cửu Long, Châu Thành-Mỹ Tho- Nam bộ. 20 tuổi, ông ra Hà Nội thi đỗ vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa 1943- 1945. Cũng bắt đầu từ đây, số phận ông đã gắn liền với một đồng bằng khác: đồng bằng châu thổ sông Hồng. 

 

Ảnh: Ký họa Mai Văn Hiến qua nét bút của HS. Lê Trí Dũng

…Tháng 8/ 1945, ông tham gia cách mạng bằng những bức tranh APFIS, làm công tác tuyên truyền phục vụ cách mạng. Từ tháng 11/1945 đến 3/1946, ông được Bộ trưởng Bộ Tài chính lúc bấy giờ là Phạm Văn Đồng giao nhiệm vụ vẽ những tờ giấay bạc đầu tiên cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông là tác giả tờ 5 đồng. Sau đó ông làm việc tại phòng tuyên truyền thông tin Trung ương cho đến ngày Tòan quốc kháng chiến. Tháng 8/1946, ông nhận được giải thưởng Baó Cứu Quốc tại tại triển lãm Mỹ thuật. Đầu 1947, ông cùng nhiều văn nghệ sĩ lên chiến khu Việt Bắc công tác tại Đoàn văn hóa kháng chiến Việt Bắc.

 Tháng 7/1947, ông nhập ngũ trực tiếp chiến đầu rồi về làm tại họa sĩ tại báo Vệ quốc quân( tiền thân báo QĐND), được kết nạp Đảng 1949 tại phòng Tuyên truyền Cục Chính trị Quân đội. Tham gia chiến dịch Đông bắc(1949), vùng mỏ (1951), giải phóng Tây Bắc( 1952), và chiến dịch Điện Biên phủ (1954). Nhiều ký họa qua các chiến dịch trở thành tư liệu quí cho sáng tác của ông sau này.

           Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông đã có những bức tranh khổ lớn để dịch vận,góp phần vào chiến thắng lịch sử vĩ đại này. Tháng 10/1954, ông về Hà Nội trong đoàn quân chiến thắng và công tác tại Tạp chí Văn nghệ quân đội và là thành viên trong Ban biên tập đầu tiên của tạp chí. Cũng trong thời gian này, ông sáng tác tác phẩm “Gặp nhau’’ giải nhì T.L.T.T.Q1954, “Trước giờ thao trường”1955. Tháng 1/1956, đại úy Mai Văn Hiến được điều động về Hội Mỹ thuật Việt Nam với cương vị ủy viên thường trực Ban Thường vụ kiêm Trưởng Ban đối ngoại. Trong thời gian này, ông và cha tôi, họa sĩ Lê Quốc Lộc trở thành anh em thân thiết, bạn đồng liêu ‘’sinh tử có nhau, đồng cam cộng khổ” Hai ông có cá tính rất khác nhau. Cha tôi thì thâm trầm kín đáo, ông thì sôi nổi ồn ào, nhưng cả hai đều có cái mũi khoằm và tính hài hước. Ngày ấy tôi còn nhớ cuối tuần mẹ tôi hay làm món vịt hầm( vịt nhồi hạt sen và gạo nếp vào, khâu lại rồi hầm nhừ),lần nào cũng mời ông tham dự. Lâu dần thành quen, không có ông chúng tôi thấy như thiếu một thực khách quan trọng. Sau này, khi tôi ở chiến trường ra, tới Hội Mỹ thuật để mua màu cho đơn vị, từ xa thấy tôi, ông gọi oang oang :” Vịt hầm” ơi, lấy màu cho bộ đội đấy à?”. Một lần khác, tôi đến chào cha tôi và các bác ở Hội Mỹ thuật để trở lại chiến trưởng, ông kéo tôi ra gốc cây si già, rễ chùm tua tủa, hai bàn tay thô ráp của ông nắm lấy hai vai tôi, ông hỏi: “ Có sợ bom không?”Tôi lúng túng không biết trả lời sao, ông nhìn sát mặt tôi, tự trả lời:” Sợ gì, sống chết có số, con ạ. Mà đã là lính thì không sợ gì hết, phải không “bộ đội”?. Lần đầu tiên , ông dành cho tôi một tình cảm chằng hài hước chút nào. Hay ông linh cảm thấy điều gì ở con người sắp vào trận này? Sau này, tôi cũng thấy ông dành những tình cảm đặc biệt cho các họa sĩ từ miền Nam ra Bắc hoặc các họa sĩ sắp vào chiến trường B,C. Sau này, tôi cũng hiểu có những điều không thể nói thành lời, có những điều không thể dùng bất cứ gì mua được, nó như Tình Yêu, nó như Tình Đồng đội, bởi ông đã từng là lính, đã từng đi chiến dịch và ông còn là một họa sĩ, một Con Người. …Giờ đây, ông đã không chờ nổi 50 năm thành lập Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi ông đứng mũi chịu sào từ ngày đầu thành lập, dù chỉ còn có hơn nửa năm nữa.

Con người ta trải qua vài chục năm “quần quật” bươn chải trên cõi thế này. Có những điều trùng lặp đến lạ kỳ, không sao giải thích nổi, người ta gọi nó là cái Duyên. Cha tôi với ông là “chiến hữu”, là đồng đội thân thiết nhất. Cha tôi đã “đi ’19 năm rồi. Chiều 11.4 âm lịch 2007, gia đình tôi đang làm giỗ cho cha mình thì bất ngờ được tin : 4 giờ 5 phút chiều ông vừa ‘đi”.Tại sao hai ông lại “đi”cùng một ngày? Mãi mãi vẫn là một điều bí ẩn “hài hước”, ít nhất là với tôi…

                            ( Trong Tác phẩm “ Những Hòn Cuội nhặt dọc đường”- L.T.D)

                  NGUYỄN TRỌNG KIỆM, MỘT NHÂN CÁCH
                                  
 Ảnh: Chân dung Nguyễn Trọng Kiệm qua nét bút của HS. Lê Trí Dũng

Nguyễn Trọng Kiệm sinh năm 1934 trong một gia đình bần nông ở thôn Tượng Cước, xã Quang Trung, huyện Ân thi, tỉnh Hưng Yên. Do cuộc sống quá khó khăn gia đình phải phiêu dạt lên Lào Cai. Ông thân sinh làm phu khuân vác để kiếm sống, bản thân Trọng Kiệm phải bán lạc rang trên tàu hỏa. Ông còn là một liên lạc viên đắc lực cho Việt Minh, kiêm chiến sĩ chăn ngựa cho lực lượng vũ trang còn non trẻ của ta. Ngoài giờ kiếm sống và công tác, ông vẽ rất nhiều, thường là các ông tướng Tàu và phong cảnh quê hương… Do một biến cố tình cờ ông được họa sĩ Nguyễn Trọng Hợp nhận làm em nuôi. Bước ngoặt này đã đưa ông sang một con đường mới để chúng ta có danh họa Trọng Kiệm ngày nay.

 Ngày ấy, họa sĩ Nguyễn Trọng Hợp dẫn người em nuôi của mình đến giới thiệu với thầy hiệu trưởng của trường Mỹ thuật khóa Kháng chiến: Tô Ngọc Vân. Để thử tài học trò tương lai của mình, đúng lúc ấy, điạ phương có một đội kèn tây về biểu diễn, thầy Vân bảo ông vẽ thử đội kèn … Ông vẽ xong, thầy Tô Ngọc Vân bảo: “Nét vẽ có duyên…” rồi nhận vào học sau kỳ thi sát hạch sau đó. Ra trường, ông được phân công về giảng dạy hình họa tại trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp, công việc này gắn bó với ông tới tận cuối đời. Nhưng vẽ mới là điều sinh tử đối với ông. Ông từng nói “Nếu không vẽ, tôi như đã  chết”. Ông vẽ sơn dầu là chủ yếu, ngoài ra còn vẽ sơn mài, lụa, giấy, tem, mẫu biểu trưng, tranh cổ động… Ông còn có duyên trong việc đạt các giải thưởng mỹ thuật. Từng đạt giải Nhất, Nhì, Ba trong các triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 5 năm 1 lần từ sau 1954. Trong lao động nghệ thuật, Ông là một họa sĩ tự “hành xác”. Nhiều đêm ông chợt tỉnh khi ý thức đến bất ngờ, cầm bút vẽ một mạch đến sáng, vừa vẽ vừa nhâm nhi chút rượu, để lấy cảm hứng và cũng để khuây đi nỗi buồn trước nhân tình thế thái, làm nhiều người tưởng lầm là ông nghiện rượu. Đề taì tranh ông chủ yếu là đề tài cách mạng gắn liền với 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ: Đứa con ra đời, Rời lều cỏ, Bác tiếp tục hành quân, Suối Lênin… Với phong cách hiện đại, tìm tòi của chất liệu chất Âu là sơn dầu, nhưng tranh ông lại tràn ngập hồn Việt với lòng yêu nước nồng nàn, với bạn bè, ông là người “trượng nghĩa”, hết lòng vì bạn trong điều kiện có thể. Với gia đình, ông là người chồng, người cha tận tụy, bù lại, ông cũng có một “nội tướng” luôn đứng đằng sau hỗ trợ ông trong sáng tác và đời thường.

 Có một chủ đề, một nhân vật luôn cháy bỏng trong ông đó là đề tài về Bác Hồ. Sau này, khi lòng tin cuộc đời đã có nhiều xáo trộn, thì tình yêu trong ông về Bác Hồ không hề thay đổi. Trong cơn sốt cao thập tử nhất sinh, ông vẫn nằm mơ thấy Bác Hồ đắp chăn cho mình… và ông đã khóc. Dứt bệnh, ông lại vẽ khỏe hơn, suốt đời ông chỉ biết vẽ, nói chuyện với ông loanh quanh rồi lại chuyện vẽ.

 Kiếp người có số phận hay không? Tôi không dám khẳng định, nhưng với Trọng Kiệm thì chắc là có. Cái nghèo bám đuổỉ ông đến cùng. Ngày 29/8/1991, ông ra đi sau một cơn tai biến mạch máu não. Tận lúc này, kinh phí nhà trường không đủ lo tang lễ, áo quan của ông là do họa sĩ Mai Châu kính tặng thầy mình. Ông là điển hình họa sĩ thời bao cấp, vừa chiến đấu với khó khăn của đời thường, vừa làm nghệ thuật. Ông ra đi để lại bao tiếc thương của người đời với một nhân cách độc đáo rất “Trọng Kiệm”.

                 

   MAI LONG, NGƯỜI CHUNG TÌNH VẼ LỤA

Ảnh: Ký họa Mai Long  qua nét bút của HS. Lê Trí Dũng

Lụa là một chất liệu độc đáo trong hội họa, nó còn là “đặc sản” của các dân tộc Châu á với lợi thế diễn tả sự “trầm” và “dịu”. Trong những năm gần đây, các họa sĩ Việt Nam ngày càng thờ ơ với Lụa trước sức ép của kinh tế thị trường và khắc nghiệt của khí hậu mặc dù suốt gần một thế kỷ qua, tranh lụa Việt Nam từng lẫy lừng với các tên tuổi: Nguyễn Phan Chánh, Linh Chi, Mai Long, Nguyễn Thụ… Để tôn vinh chất liệu hội họa này, xin giới thiệu chân dung một họa sĩ cống hiến cả đời mình cho chất liệu độc đáo này, họa sĩ Mai Long.

Ông sinh năm 1931 tại Hải Phòng, miền đất cảng luôn tiếp cận những điều mới lạ. Nhưng quê gốc của ông lại ở Nam Định, miền đất “học”, nổi tiếng Khoa bảng. Phụ thân của ông là một nhà nho, có học vấn nhưng không có tham vọng quan chức mà chỉ để tâm nghiên cứu đông y. Ngay từ nhỏ, Mai Long đã có thiên hướng hội họa. Năm 25 tuổi, sau khi tốt nghiệp trường Mỹ thuật, ông quyết định chọn Lụa làm chất liệu chính trong sự nghiệp sáng tác của mình bởi khả năng diễn tả của nó phù hợp với tâm hồn và cảm xúc của ông. Những năm sau đó, một thời gian dài ông sống và làm việc trên vùng biên giới xa xôi: Tây Bắc. Thiên nhiên và cuộc sống của các dân tộc thiểu số đã quyến rũ ông. Năm 1953-1954 chính ông đã được Sở Văn hóa Thông tin Tây Bắc cử đi, cùng các thầy Tô Ngọc Vân, Nguyễn Văn Tỵ, Sỹ Ngọc tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ và sau khi từ giã đoàn, ông lại được tin thầy Tô Ngọc Vân đã hy sinh dưới chân đèo Lũng Lô trong một trận không kích của quân Pháp.

Sau khi giải phóng Thủ đô. Một duyên cơ bất ngờ đến với ông, ông được bố trí ở 65 Nguyễn Thái Học cùng nhà với họa sĩ Nguyễn Phan Chánh là sinh viên khóa 1 của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và từng làm xôn xao dư luận Pháp bằng những bức tranh lụa của mình. Cụ Chánh đã kết hợp được hội họa hiện đại Pháp với vẻ đẹp huyền bí Phương Đông. Qua người thầy của mình ông ngộ ra là tranh lụa có khả năng diễn tả sâu sắc nhất những gì người họa sĩ muốn thể hiện mà những chất liệu khác như sơn dầu, sơn mài khó lòng đạt tới.

Mai Long thường sử dụng nhiều chủng loại khác nhau về độ dày mỏng, mau thưa phù hợp với các ý tưởng, chủ đề mà ông nung nấu, vẽ xong, lụa lại được bồi lên mặt giấy Dó, một nguyên liệu cổ truyền được sản xuất thủ công. Có bức họa sĩ phải vẽ cả hai mặt lụa, có bức phải rửa đi rửa lại hàng chục lần… Với những kỹ thuật vẽ lụa điêu luyện, Mai Long đã tạo ra nhiều tác phẩm mà sự mềm mại và hư ảo lan tỏa từng thớ lụa. Ông đã làm chủ ngọn bút và mảnh lụa, trên đó hòa trộn mưa và sương mù, gió cuốn trên sóng, lung linh ánh lửa nhà sàn, nắng chiều xuyên núi. Trăng sáng trên biển… Ngập tràn không gian đầy hư ảo và huyền hoặc…

Năm 1980, Mai Long được mời bầy triển lãm tại Moscow. Trong triển lãm, theo yêu cầu của công chúng, ông đã trình diễn nghệ thuật vẽ lụa trước công chúng Moscow. Sau đó, tranh của ông đã được mua hết, với số tiền đó ông đã mua rất nhiều họa phẩm để vẽ và tặng bạn bè. Còn lại, ông mua quà tặng vợ mình, người đã động viên, khích lệ ông những lúc gian nan, nuôi dạy đàn con khi ông vắng nhà. Mọi người nghĩ về ông không chỉ là một nghệ sĩ tài năng mà còn là một con người yêu cuộc sống, yêu con người, yêu thiên nhiên và đất nước mình.

 LTD (Cổng giao tiếp điện tử Hà Nội)